Bàn về một số vấn đề xác định mức độ khuyết tật đối với trẻ em ở Việt Nam hiện nay

Bàn về một số vấn đề xác định mức độ khuyết tật đối với trẻ em ở Việt Nam hiện nay

Trẻ em [1] luôn là một trong những đối tượng hàng đầu cần được chăm sóc, hỗ trợ, bảo vệ từ gia đình, cộng đồng và xã hội. Riêng trẻ khuyết tật được xếp vào nhóm có hoàn cảnh đặc biệt cần có những giải pháp chăm sóc, hỗ trợ đặc thù theo chính sách của pháp luật Việt Nam.[2]  Theo báo cáo của UNICEF (2016 và 2017): Việt Nam có khoảng 1,1 trẻ em khuyết tật độ tuổi dưới 16 tuổi. Số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) cũng cho thấy số trẻ khuyết tật là 1.3 triệu trẻ.[3] Tính theo tỷ lệ thì tỷ lệ người khuyết tật nói chung ở nước ta chiếm 7,06% dân số, trong đó tỷ lệ khuyết tật của trẻ em từ 02 đến 17 tuổi là 2,83% (trẻ em 02-15 tuổi là 3,02%).[4] Có thể thấy, số lượng trẻ em khuyết tật là không nhỏ ở Việt Nam hiện nay. Chính sách hỗ trợ, bảo vệ và chăm sóc trẻ em khuyết tật được thể hiện trong Luật Người khuyết tật 2010, Luật Trẻ em 2016 và được lồng ghép trong nhiều đạo luật khác nhau trên các lĩnh vực như bảo trợ xã hội, y tế, giáo dục- học nghề, lao động.... Bài viết này tập trung đề cập đến một số vấn đề thuộc mảng chính sách xác định mức độ khuyết tật liên quan đến trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay và những kiến nghị hoàn thiện mảng chính sách này nhằm tăng cường cơ sở pháp lý đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ em khuyết tật ở nước ta.
Sinh hoạt nhóm: Một cách tiếp cận hiệu quả trong hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho người khuyết tật và gia đình tại Quảng Trị

Sinh hoạt nhóm: Một cách tiếp cận hiệu quả trong hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho người khuyết tật và gia đình tại Quảng Trị

Từ những buổi sinh hoạt nhóm được tổ chức tại cộng đồng, nhiều người khuyết tật và thành viên gia đình tại Quảng Trị đã dần bước ra khỏi lo âu, trầm cảm, từng bước ổn định trạng thái tâm lý và tăng cường niềm tin vào bản thân. Những thay đổi ấy được hình thành thông qua quá trình lắng nghe, chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau trong môi trường sinh hoạt nhóm đồng cảnh.
Thành quả cuối kỳ: Những nụ cười và giọt nước mắt hạnh phúc

Thành quả cuối kỳ: Những nụ cười và giọt nước mắt hạnh phúc

Từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 12 năm nay, tôi có chuyến công tác đặc biệt tại thành phố Huế: đánh giá cuối kỳ hoạt động phục hồi chức năng và chăm sóc điều dưỡng tại nhà cho người khuyết tật thuộc dự án Hoà nhập 1 do Viện ACDC triển khai.
Chuyên đề: Luật người khuyết tật 2010 - Đã đến lúc cần sửa đổi!?

Chuyên đề: Luật người khuyết tật 2010 - Đã đến lúc cần sửa đổi!?

KỲ I - MỘT SỐ Ý KIẾN GÓP PHẦN HOÀN THIỆN NỘI DUNG CHƯƠNG I CỦA LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT 2010 Luật người khuyết tật nước ta được ban hành từ năm 2010, trong 10 năm qua luôn được xem là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện quyền của người khuyết tật Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, sau thời gian triển khai thực hiện, Luật người khuyết tật 2010 đã bộc lộ không ít điểm bất cập so với yêu cầu của Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD), cũng như có những điểm thiếu đồng bộ với hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam. Những bất cập đó đặt ra yêu cầu cần thiết phải nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Luật người khuyết tật nhằm phù hợp với CRPD mà Việt Nam đã tham gia và hệ thống pháp luật hiện hành, cũng như phù hợp với mức độ phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. Từ đó tạo cơ sở pháp lý vững chắc tăng cường việc đảm bảo quyền của người khuyết tật Việt Nam trong thực tiễn.[1] Phạm vi nghiên cứu các chính sách của Luật người khuyết tật rất rộng, trong bài viết này, tác giả xin phép đề cập đến một số vấn đề nhằm góp phần kiến nghị hoàn thiện những nội dung thuộc Chương I (những quy định chung) của Luật người khuyết tật 2010.
Chuyên đề (tiếp theo kỳ II): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

Chuyên đề (tiếp theo kỳ II): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

KỲ III: VẤN ĐỀ CẤP THẺ BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe là nhu cầu tất yếu của con người, đối với người khuyết tật (NKT) thì nhu cầu này lại càng quan trọng và cấp thiết. Xuất phát từ nhu cầu mang tính khách quan, chính đáng ấy của NKT, quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, tập luyện và phục hồi chức năng của NKT đã được ghi nhận tại Chương III của Luật NKT năm 2010 và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác[1] của Việt Nam. Về cơ bản, hệ thống chính sách về chăm sóc sức khỏe đối với NKT của nước ta đã đảm bảo phù hợp với nội dung tinh thần của Công ước quốc tế về quyền của NKT (CRPD, Điều 25-26). Tuy nhiên, qua hơn một thập kỷ đi vào thực tiễn đời sống, một số nội dung quy định về chăm sóc sức khỏe của Luật NKT năm 2010 và hệ thống văn bản chuyên ngành cũng đã bộc lộ một số điểm bất cập, lạc hậu, trong đó, phải kể đến quy định về quyền lợi được cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) đối với NKT. Cụ thể:
Chuyên đề (tiếp theo kỳ I): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

Chuyên đề (tiếp theo kỳ I): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

KỲ II: MỘT SỐ Ý KIẾN GÓP PHẦN HOÀN THIỆN NỘI DUNG CHƯƠNG II TRONG               LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT 2010 Một số bất cập liên quan đến Hội đồng Xác định mức độ khuyết tật (XĐMĐKT) Trong thời gian hơn 10 năm thi hành Luật Người khuyết tật 2010 cho thấy Hội đồng XĐMĐKT cấp xã đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình XĐ, XĐ lại MĐKT đối với người khuyết tật (NKT). Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2016, đã có 63 tỉnh, thành phố thực hiện việc XĐMĐKT và cấp giấy xác nhận khuyết tật cho 266.639 NKT đặc biệt nặng, 634.567 NKT nặng và 543.126 NKT nhẹ[1]. Tuy nhiên, những quy định liên quan đến Hội đồng XĐMĐKT theo quy định của Luật NKT 2010 cũng đang dần bộc lộ những khó khăn, vướng mắc nhất định.
Chuyên đề (tiếp theo kỳ III): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

Chuyên đề (tiếp theo kỳ III): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

KỲ IV: VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO QUYỀN HỌC TẬP CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Với vai trò là một quốc gia thành viên của Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD), Việt Nam đã thừa nhận và thực hiện quyền giáo dục của người khuyết tật với định hướng rõ ràng. Tuy nhiên, quy định của Luật Người khuyết tật hiện hành vẫn tồn tại một số vấn đề khiến việc bảo đảm quyền học tập của người khuyết tật còn gặp nhiều khó khăn và thách thức, cần phải được tiếp tục bổ sung, sửa đổi trong thời gian tới.
Chuyên đề (tiếp theo kỳ IV): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

Chuyên đề (tiếp theo kỳ IV): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

KỲ V: VẤN ĐỀ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Tính đến cuối năm 2020, Việt Nam có khoảng 6,2 triệu người khuyết tật, khoảng 62% trong số đó đang trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên, những nội dung liên quan đến dạy nghề và việc làm dành cho người khuyết tật trong Luật Người khuyết tật năm 2010 vẫn còn những điểm hạn chế, bất cập. Những chia sẻ trong bài viết sau đây sẽ giúp độc giả có thêm những góc nhìn đa chiều hơn trong vấn đề này.
Chuyên đề (tiếp theo kỳ V): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

Chuyên đề (tiếp theo kỳ V): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

KỲ VI: BÀN VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TĂNG CƯỜNG BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA, THỂ DỤC, THỂ THAO, GIẢI TRÍ VÀ DU LỊCH TRONG LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT 2010 Nằm trong chuỗi bài viết nhằm hoàn thiện Luật Người khuyết tật 2010, kỳ này, Ban biên tập sẽ gửi tới đọc giả bài viết tập trung phân tích một số chính sách đảm bảo quyền tiếp cận, tham gia của người khuyết tật trong lĩnh vực văn hóa, thể dục thể giao, giải trí và du lịch. Bài viết cũng sẽ đề cập tới một số những vướng mắc, bất cập từ thể chế cũng như kiến nghị một số nội dung liên quan đến hoàn thiện các chính sách nói trên.
Chuyên đề (tiếp theo kỳ VI): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

Chuyên đề (tiếp theo kỳ VI): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

KỲ VII: VẤN ĐỀ NHÀ CHUNG CƯ VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG ĐẢM BẢO TIẾP CẬN CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT Những năm gần đây, các công trình cải tạo, xây dựng mới chung cư cao tầng, công trình công cộng nhìn chung đã chú trọng thực hiện các quy định theo tiêu chuẩn, quy chuẩn đảm bảo tiếp cận cho người khuyết tật. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy các công trình công cộng, nhà chung cư vẫn chưa thực sự đảm bảo tiếp cận cho người khuyết tật, điều này vô hình chung đã trở thành rào cản dẫn đến việc người khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày.
Chuyên đề (tiếp theo kỳ VII): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

Chuyên đề (tiếp theo kỳ VII): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

KỲ VIII: GIAO THÔNG ĐẢM BẢO TIẾP CẬN CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT Giao thông đảm bảo tiếp cận hiện đã và đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới, với hệ thống giao thông ngày càng văn minh, lịch sự, an toàn, thuận lợi, mong muốn đáp ứng tối đa nhu cầu đi lại của tất cả thành viên trong xã hội, trong đó bao gồm người khuyết tật. Ở Việt Nam, đảm bảo tiếp cận giao thông đối với người khuyết tật luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm với những chính sách, chương trình và đề án đặc thù. Tuy vậy, các chính sách liên quan đến giao thông tiếp cận chưa thực sự đầy đủ, một số quy định đến nay vẫn chưa được triển khai, áp dụng hiệu quả trên thực tiễn. Điều này vô hình trung đã trở thành rào cản dẫn đến việc người khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong việc tham gia giao thông.
Chuyên đề (tiếp theo kỳ VIII): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

Chuyên đề (tiếp theo kỳ VIII): Luật Người khuyết tật 2010 – Đã đến lúc cần sửa đổi!?

KỲ IX: BÀN VỀ VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT NGHE, NÓI TRONG LĨNH VỰC KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, tính đến cuối năm 2016 đầu năm 2017, cả nước có 6.225.519 người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên, trong đó, có đến 933.896 người khuyết tật nghe và 836.247 người có vấn đề về giao tiếp[1]. Do điều kiện sức khỏe nên trên thực tế, nhu cầu về khám bệnh, chữa bệnh của người khuyết tật (bao gồm cả người khuyết tật nghe, nói) rất cao,[2] song, việc tiếp cận với các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của người khuyết tật, đặc biệt là người khuyết tật nghe, nói còn gặp nhiều khó khăn. Bài viết này đề cập một số vấn đề nhằm góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật và cơ chế thi hành pháp luật đảm bảo quyền của người khuyết tật nghe, nói trong khám chữa bệnh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.